Thi pháp nhập môn

Phận hèn chui-nhủi tháng ngày qua,Dắng-dỏi đêm hôm tiếng thiết-tha,

Bay nhãy với đời coi thữ sức,Vui chơi củng biết đá như gà.

Vì nước xông-pha vượt tới vời,Nhẹ-nhàn bốn cánh thảnh-thơi chơi,Trẻ ưa xăng-xít vầy nhau tập,Lui tới thung-dung ở giửa trời.

Nực dông thiên hạ thảm gần xa,Cóc ở trong hang, cóc nhãy ra,Phình bụng nghiến răng trời đất động,Tuôn châu rơi lụy chứa-chan òa.

Ngựa lừa lai giống gọi là la,Giống mẹ, có phần cũng giống cha,Thua ngựa khôn ngoan, hơn sức mạnh,Chỡ chuyên đồ nặng lại đi xa,

Biển đục trời mờ nỗi gió dông,Lên vòi đồ-sộ giửa minh-mông,Ra ơn cứu vớt người lâm nạn,Nam-hải tướng quân, sắc tặng phong.

Ngan dọc ngoài khơi trãi nắng mưa,Chín hàm răng sắt tợ răng cưa,Vẫy vùng oai thế, con người khiếp,Lâm tới chàng-va ắt chẳng chừa.

Vảy rùa nanh cọp, vóc in rồng,Ở láng ở bưng ở dọc sông,Hàng-dủ làm văn phân phải quấy,Chịu lời khôn khéo nói nghe thông.

Muổi hởi! sanh sao sướng mọi đều,Thiếu chi chi nửa hảy còn kêu,Lầu son các tía hằng lui tới,Da tuyết má đào mặc ấp yêu,Béo miệng chẳng thương con trẻ dại,Cành hông nào tưỡng chúng dân nghèo,Một mai dầu gặp Vương-hoài-Quấc,Sữa tội nhà ngươi ắt chẳng nhiêu! (Thơ xưa.)

Lò mò lo cho trò,Bè tre che le the,Xô cô vô ô rô,Ôi thôi rồi nồi xôi,

Đem nem nhem thèm em,Thằng ăn măn nhăn răng,Không chồng trông bông lông,Qua nhà bà gia ta.

Sao bắc ngang trời, đêm muốn sáng,Người buồn dựa nguyệt, lòng ngao-ngán,Tranh Tần bên các bổng tai vang,Gái Triệu gần nhà đờn tiếng rảng,Khúc dứt, mày xanh, tưởng sắc phai,Điệu mau, ngón, ngọc, e sương dạn,Thảm trông, then bạc, cửa còn gài,Chi bằng chiêm-bao may thấy hản.

Sao bắc ngang trời muốn rạng đông,Người buồn dựa nguyệt ý khôn cùng,Tranh Tần, tiếng vẳng nghe trên các,Gái Triệu, tay đờn rảng dưới cung,Khúc dứt mày xanh thương mặt ủ,Điệu mau ngón ngọc cãm sương lồng,Tư bề cửa các then còn đóng,Mượn giấc chiêm-bao họa thấy không.

Lớp tàn lớp mọc ngó cho cùng,Thời thế xây vần khó biết hung,Trời đất nỡ chìu tay bạc ác,Nước non đễ giận kẻ anh hùng,Ra tuồng rộng-rải đàng nguy hiểm,Tới lối hẹp-hòi ngả hiếu trung,Lấp thảm quạt sầu ngày thỏn-mỏn,Dứt đi nối lại nghĩ mà xung.

Dại làm cho lắm, dại huờn dại, (hạc tắc).Khôn có bỏ qua, khôn củng khôn, (phong yêu).

Cửu-chơn có ả Triệu-kiều,Vú dài ba thước, tài cao muôn người;Gặp cơn thảo muội cơ trời,Đem thân bồ liểu theo loài bồng tang.

Người quốc sắc, kẻ thiên tài,Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.Tuần trăng khuyết, dỉa dầu hao,Mặt mơ-tưỡng mặt, lòng ngao-ngán lòng.Khi nghe hạnh, khi nét ngời,Khi ngâm-ngợi nguyệt, khi cười-cợt hoa.

Bây-giờ đất thấp trời cao,ăn làm sao, nói làm sao, bây-giờ.Tiếc thay, trong giá trắng ngần,đến phong trần, củng phong trần, như ai.Một mình âm-ỷ canh chầy,dỉa dầu vơi, nước mắt đầy, năm canh.Sớm khuya khăn mặt lược đầu,phận con hầu, giữ con hầu, dám sai!Chùa đâu trông-thấy nẻo xa,rành-rành: Chiêu-ẩn-am, ba chử bày.Hoa trôi bèo giạt đã đành,biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi!

Nào người phụng chạ loan chung,nào người tiếc lục tham hồng là ai?Đã không kẻ đoái người hoài,Sẳn đây ta kiếm một vài nén hương.

Khi ăn khi nói dở-dang,Khi thầy khi tớ, xem thường xem khinh.Sanh càng như dại như ngây,Dọt dài dọt vắn, chén đầy chén vơi.

Chìm đáy nước, cá lờ-đờ lặn,Liện da trời, nhạn ngẩn-ngơ sa.Hương trời đắm nguyệt say hoa,Tây-thi mất vía, Hằng-nga giật mình.

Chín lần gươm báu chống tay,Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.Nước thanh bình, ba trăm năm cũ,Aó nhung trao quan vủ từ đây.

Vuông tròn trời đất nói khôn cùng,Tháng bảy ngày rằm tới Quảng-đông,Kẹo kéo lằng-nhằng nhai chửa đứt,Tơ vò rối-rắm gỡ hầu xong,Nửa năm rượu thịt, đôi quan khách,Ngàn dặm non sông, một chiếc đồng,Chờ gặp cố nhơn, bày khoản khúc,Kẻo đây thương đó, đó nguồi trông.

Nguồi trông nên phải gắn chìu lòn,Tháng tí ngày dần tới Úc-môn,Ngàn trượng ơn sâu lai-láng biển,Muôn trùng nghỉa nặng chập-chồng non,Dưới trời ai kẻ không tôi chúa,Trên đất mấy người chẳng vợ con,Đồ-sộ vật chi, xem hởi đó,Chẳng sau chẳng trước chẳng đen mòn.

Đen mòn sao đặng nghỉa cùng ta,Năn-nỉ sớm khuya việc cửa nhà,Ít sống xưa nay, người bảy chục,Nhiều lo lui tới, đạo năm ba,Trăng tròn mặt ủ, mây chưa vén,Biển mặn lòng thuơng, nước khó pha,Cậy có Diêu-quang soi tỏ dạ,Dể đâu chẳng biết vậy nhưng là.

Nhưng là muốn mỡ nẻo chông gai,Chi quản đường xa mấy dặm dài,Dưới nguyệt ham vui nên chước chén,Trong sương chịu lạnh đặng tầm mai,Đã cam mình phải cây vô dụng,Chớ nại người chê đứa bất tài,Nghĩ kễ ba trăm năm có lẻ,Xin đừng năn-nỉ chuyện nay mai.

Nay mai còn có chổ chưa tường,Cách bạn xa-xuôi mấy tháng trường,Đường nọ phải chăng còn lộn-lạo,Việc nầy khôn dại hảy lương-ương,Chanh-ranh bởi đó sao lăng-liếu,Mắt-mỏ vì ai khéo vấn-vương,Trình với bao nhiêu người quyền thức,Đam lòng quân tử mặc lo lường.

Lo lường lại giận nổi con cua,Tưỡng đến càng thêm sự đấu đua,Mây mịt-mù che trời nhớ bạn,Nước minh-mông dẫy biển trông vua,Đi cờ thế đó tay không thấp,Đếm đất đàng nầy cuộc chẳng thua,Cho rỏ làm người thì phải vậy,Dể mô chẳng biết một bàn lùa.

Một bàn lùa sạch đúa hoang hung,Phong cảnh như vầy phỉ luống trông,Doi vịnh năm ba thuyền đỗ liểu,Bên non bảy tám hạc về tùng,Vật còn chút biết trời khuya sớm,Người dể không hay đất lạnh-lùng,Liếc thấy chín trùng chưa khỏe gối,Dám đâu mình chịu phận thung-dung.

Thung-dung theo thế ít ai bì,Mượn mỏ làm vui dể khó chi,Thu hứng tám bài thi Đổ phủ,Đông ngâm một bức họa Vương-duy,Cầm xan chong phiếm thương tri kỉ,Cờ sắp thưa con học chỉnh sư,Nhớ đó thời thôi nguôi dể đặng,Thôi nguôi dể đặng khó chi chi.

Chi chi nghe đến, tấm lòng xiêu,Chắp nối Tì-bà hoán bấy nhiêu,Riêng trách chẳng vàng, tay vẽ tượng,Thầm than không bạc, mặt mua yêu,Đất Hồ huê ủ màu khôn lợt,Trời Hán trăng tròn bóng xế theo,Bao quản ngọc quang, tình mấy dặm,Mây sầu gió thảm buổi ban chiều.

Ban chiều bên núi bóng cờ đưa,Tiết nghỉa năm ba hảy đợi chờ,Lố thấy ác vàng, lòng có Hán,Liếc xem tuyết bạc, mắt không Hồ,Chống sương một cán, cờ ngay thẳng,Trãi gió năm canh, dạ phất-phơ,Vói hỏi xanh xanh kia biết chẳng,Ngày nào về đặng nước nhà xưa.

Nước nhà xưa có phụ chi ai,Nhắn với bao nhiêu kẻ cỏi ngoài,Gắn sức dời non khoan nói tướng,Trãi lòng nâng vạc mới rằng trai,Nắng sương chưa đội trời chung một,Sông núi đừng cho đất rẽ hai,Giúp cuộc Vỏ Thang thêm trí lực,Người còn đễ tiếng nức lâu dài.

Lâu dài mong trã nợ quân thân,Bao quản đường xa gánh nặng hoằng,Chíp lụy anh hùng khi tác biệt,Bày tình trung nghỉa đạo vi thần,Con ve mấy chặp, hơi kêu hạ,Đổ vủ năm canh, tiếng khóc xuân,Gió thảm mưa sầu đang dập-dả,Bút huê mượn chép sự khùng khằng.

Khùng khằng lại tưỡng chuyện lăng-nhăng,Tối chớp mai mưa gẫm chẳng-bằng,Bến nước mười hai đưa chiếc lá,Đất trời ba bảy đợi con trăng,Thương đây lại dặn đừng thương lảng,Nhớ đó thời thôi chớ nhớ xằng,Mối nợ dây duơn, ai có hỏi,Xưa nay củng một tấm lòng chăng.

Tấm lòng chăng phải, phải phân trần,Ít nói ấy người dưỡng tánh chân,Đã bện bồ-nhìn làm đứa quỉ,Lại trau cục đá tượng ông thần,Dầu chưa nước phấn tô gương mặt,Sẳn có cây da cậy tấm thân,Củng muốn đem mình theo thế ấy,Đem mình theo thế ấy bần thần.

Bần thần phát giận đứa xung-xăng,Quán Sở lầu Tần đã mấy trăng,Phới-phới mưa xuân, hang dể lấp,Chan-chan nắng hạ, lửa đương hừng,Thu trao thơ nhạn, lời no ấm,Đông gặp tin mai, chuyện khó-khăn,Trời đất bốn phương non nước đó,Làm chi nên nổi tới lăng-nhăng.

Lăng-nhăng bửa diếp củng hoang-đàng.Tiệc ngọc thuyền huê, bạn đãi-đằng,Than phận linh-đinh, đào lắc-lở,Trách tình lạc-lẻo, liểu lăng-quằng,Con trăng nhán bóng, cây mai bạc,Dì gió đưa duyên, đóa cúc vàng,Ơn đội chúa xuân, cơn gặp-gở,Canh tàn mộng tĩnh, dám mê-mang!

Mê-mang cho đến bực là tiên,Năm đấu năm bài giã dạng điên,Vui sẳn trước huê vài đóa cúc,Lo chi trong đảy mấy đồng tiền,Lưu-linh, vợ lạy, không rời chén,Lý-bạch, vua kêu, chẳng nới thuyền,Hầu muốn học đòi theo thế ấy,Song lo thời thế hảy chưa yên.

Chưa yên ta phải tính làm sao,Cơm áo ngồi không dể đặng nào,Đã cậy binh sương trừ giặc cỏ,Lại bày trận gió phất cờ lau,Đất an cỏi Việt, rừng nho rậm,Trời giúp nhà Ngu, biển thánh cao,Mới rỏ tài non đền nợ nước,Dám đâu tưỡng chuyện ẫn nguồn đào.

Comentarios

Cargando comentarios…